Mô tả
Góc nhìn Aha
Hai giây. Đó là khoảng thời gian cần để chào người bảo vệ ở sảnh, cảm ơn người giao hàng, hoặc giữ cửa thang máy cho một người lạ. Linda Kaplan Thaler và Robin Koval, hai người phụ nữ xây dựng một công ty quảng cáo ở New York, tin rằng những hai giây ấy cộng lại thành một lợi thế kinh doanh mà ít ai chịu tính.
Sức Mạnh Của Sự Tử Tế là một cuốn sách ngắn, viết bằng giọng của người trong nghề. Ngành quảng cáo vốn nổi tiếng cạnh tranh gắt, và hai tác giả muốn chứng minh điều ngược với câu “người tốt về chót”. Họ kể những mẩu chuyện từ công việc của mình và của người khác, rồi rút thành sáu nguyên lý cùng một loạt gợi ý thực hành.
Hai hình ảnh dễ nhớ nhất trong sách là hạt giống và cái bánh. Một ấn tượng tích cực giống như hạt giống: bạn gieo xuống mà không biết khi nào nó mọc, và người bạn tử tế hôm nay có thể là người quyết định một việc quan trọng với bạn nhiều năm sau. Còn trong thương lượng, thay vì giành phần lớn hơn của một cái bánh có sẵn, hai tác giả khuyên nướng một cái bánh to hơn để cả hai bên cùng có phần.
Ý khiến mình dừng lại là ý ngược của hạt giống. Sách nói ấn tượng tiêu cực lan như mầm bệnh, lặng lẽ và xa hơn ta tưởng. Một lần gắt với nhân viên phục vụ trước mặt đối tác, một email trả lời cộc lốc lúc đang bực, và câu chuyện ấy sẽ được kể lại ở những nơi mình không có mặt. Điều này càng đúng với một công ty nhỏ, nơi tiếng tăm đi bằng lời truyền miệng.
Làm đào tạo và đồng hành với doanh nghiệp, mình thấy sự tử tế thường bị hiểu sai theo hai hướng. Chủ doanh nghiệp nói “mình mà hiền là tụi nó leo lên đầu”, “thương trường là chiến trường”. Nhân viên lại nói “sếp tốt lắm, có điều không bao giờ nói thẳng”. Hướng thứ nhất coi tử tế là yếu. Hướng thứ hai nhầm tử tế với dễ dãi, và cả hai đều bỏ lỡ điều cuốn sách muốn nói.
Câu hỏi quay về phía mình là: mình tử tế với ai khi không cần gì ở họ? Cách một người cư xử với khách hàng lớn không nói được nhiều. Cách người đó cư xử với thực tập sinh, với nhà cung cấp nhỏ, với ứng viên bị loại mới là phép thử.
Cuốn sách có những giới hạn mình không muốn bỏ qua. Bằng chứng chủ yếu là giai thoại, phần lớn từ chính công ty của hai tác giả, nên những câu chuyện tử tế được đền đáp nổi bật hơn những lần nó không đem lại gì. Sách gần như không nói đến tình huống sự tử tế bị lợi dụng. Lập luận “tử tế vì nó có lợi” cũng có một điểm yếu: nếu chỉ tử tế để được việc, người đối diện sớm muộn sẽ nhận ra. Và với người đã quen thể loại này, nhiều lời khuyên như mỉm cười, lắng nghe, khen thật lòng sẽ không mới.
Điều mình muốn bổ sung là sự phân biệt giữa tử tế và dễ chịu. Người dễ chịu tránh nói điều khó nghe để giữ không khí. Người tử tế nói điều khó nghe theo cách người kia còn tiếp nhận được. Trong đào tạo đội ngũ, tử tế là nói thật sớm, khi người kia còn kịp sửa. Im lặng đến kỳ đánh giá cuối năm rồi mới nói thì không phải tử tế, dù suốt năm ai cũng vui.
Việc nhỏ mình áp dụng lấy từ chính hình ảnh hạt giống. Mỗi ngày một việc tử tế mà mình không kỳ vọng nhận lại gì: một lời cảm ơn cụ thể, một lời giới thiệu, một tin nhắn hỏi thăm. Mình không ghi lại để tính sổ, chỉ để nhắc mình rằng thói quen này cần được tập như mọi thói quen khác.
Cuốn sách hợp với người làm bán hàng, dịch vụ, những nghề sống bằng quan hệ, và với quản lý trẻ đang tin rằng phải cứng mới được nể. Nếu bạn cần nghiên cứu nghiêm túc về hợp tác và lòng tin, hoặc đang ở trong một môi trường thật sự độc hại, cuốn này sẽ quá nhẹ.
Người nào trong tuần này đã gặp bạn đúng một lần, và họ sẽ kể gì về lần gặp ấy?



Đánh giá
Chưa có đánh giá nào.